Thứ Hai , 23 Tháng Bảy 2018
Home / Phân bón - Hóa Chất / Tìm hiểu về các loại đạm và cách sử dụng

Tìm hiểu về các loại đạm và cách sử dụng

Xin chào tất cả các bạn. Hôm nay ChungFarm xin chia sẻ một bài viết về các loại phân Đạm trên thị trường và cách sử dụng chúng như thế nào cho hiệu quả.

Với kiến thức hạn hẹp sau thi thu thập và tổng hợp cũng hy vọng được sự đóng góp nhiệt tình từ các bạn để việc chia sẻ được chính xác và hoàn thiện tốt nhất góp phần giúp bà con nông dân hiểu rõ hơn về các sản phẩm phân bón phù hợp cho cây trồng và từng giai đoạn mà cây trồng cần những loại phân bón như thế nào? Bác nào đã biết rồi thì xin đừng nói lời cay đắng nhé!!! tội nghiệp em.

Thôi không dài dòng nữa nhé. Cụ thể hôm nay ChungFarm sẽ nói về các loại Đạm sau:
Urê [CO(NH2)2], amoni sunfat [(NH4)2SO4] (phân SA), Phân amon nitrat (NH4NO3), Amoni clorua (NH4Cl), Canxi nitrat [Ca(NO3)2],…

Rồi chúng ta bắt đầu mổ xẻ từng em một xem nó như thế nào nhé.

UREA: Công thức hóa học của em nó là [CO(NH2)2]: đây chính là mấy loại phân như Đạm Phú Mỹ, Cà Mạu đấy các bác.

urea-1Trong phân chứa 44 – 48% N, đây loại phân có tỉ lệ N cao nhất và phổ biến nhất hiện nay và dùng cho hầu hết các loại cây trồng và các loại đất, thích hợp đất chua phèn. Urea được coi là loại phân có hiệu quả kinh tế cao trong nông nghiệp. Nhiệt độ nóng chảy của Urê là 133 °C, độ hòa tan trong nước là 1080 g/L (20 °C).

Chúng tồn tại ở dạng tinh thể, không mùi, dễ hút ẩm và thường có màu trắng. Còn có thêm các màu vàng (Urê Agrotain), hạt xanh (Urê NEB-26). Vì sao nó có thêm các màu khác thì xin chia sẻ luôn là mấy bác kỹ sư khoa học nghiên cứu nhuộm màu và thêm một số nguyên tố trung vi lượng như Bo, Mg, Zn… nói chung là những thứ lung tung mà có lợi cho cây trồng và cách nhuộm này sẽ có thêm 1 lợi ích nữa là để giảm sự thất thoát Đạm khi bón cho cây trồng nữa. Nên khi đi mua mấy bác hay thấy trên bao bì hay để câu “Tiết kiệm 25% – 30% so với đạm thông thường”.

Còn cách sản xuất em nó là kết quả của phản ứng giữa khí amoniac (NH3) và Cacbon dioxide (CO2) dưới điều kiện nhiệt độ và áp suất. Urea nóng chảy được tạo hạt hình cầu bằng thiết bị tạo hạt chuyên biệt hoặc làm cứng thành các miếng nhỏ khi rơi trong hệ thống tháp cao(Các nhà máy sản xuất tại Việt Nam như nhà máy Đạm Phú Mỹ, Cà Mau, Ninh Bình, Hà Bắc). Trong quá trình sản xuất, hai phân tử Urea có thể vô tình bị kết dính với nhau tạo thành Biuret đây là thành phần có hại khi phun lên lá cây đấy các bác. Nếu tỷ lệ Biuret từ 2.5%-3.1% thì khả năng gây độc cho cây trồng là rất cao. Mức tối đa quy định với thành phần này không được vượt quá 1.2% vì vậy quá trình sản xuất cần kiểm soát hàm lượng biu rét thấp. Các dây truyền sản xuất Urea thường được đặt gần các cơ sở sản xuất amoniac để giảm chi phí.

Amoni sunfat công thức hóa học của em nó là[(NH4)2SO4]: Hay bà con nông dân chúng ta còn gọi là phân SA đó các bác.

ammonium-sulfate-formulaTrong phân chứa 20 – 21% N và 24% S(Lưu huỳnh),  em nó đã được sản xuất từ cách đây khoảng 150 năm về trước (éc lâu quá hehe) Phân tồn tại ở dạng tinh thể mịn, màu trắng ngà hoặc xám xanh, mùi khai, vị mặn và hơi chua, dễ hút ẩm.

Phân SA có thể bón cho nhiều loại cây. Lưu ý nếu đất chua phèn cần bón thêm vôi, lân rồi mới bón đạm sunfat. Nếu bón phân SA ngay sẽ bị axit trung hòa làm giảm tác dụng. Một số cây như đậu, ngô, Cà phê cần nhiều S, bón phân SA rất tốt. Bời vì Lưu Huỳnh rất tốt cho quá trình phân hóa mầm hoa và đậu trái. Nhiệt độ nóng chảy của SA là 135 °C, độ hòa tan trong nước là 744 g/L (20 °C).

Cách sản xuất em nó là kết quả từ amonia phản ứng với axit sulfuric.  Ban đầu, hợp chất này được sản xuất từ khi amoniac giải phóng từ quá trình sản xuất khí than hoặc từ than đá của quá trình luyện kim. Kích thước của của hạt tinh thế phụ thuộc vào việc kiểm soát các điều kiện phản ứng. Sau khi đạt được kích thước mong muôn, hạt tinh thể sẽ được sấy khô và sàng hạt, đôi khi còn được bọc bởi một chất điều hòa để giảm tro và vón cục.

Phần lớn nhu cầu về amoni sunphat được cung cấp từ các ngành công nghiệp, ví dụ như là kết quả của quá trình sản xuất nilon. Mặc dù màu sắc có thể đa dạng từ trắng đến màu be, nhưng hạt đều tan mạnh và dễ dàng bảo quản.

Phân amon nitrat công thức hóa học của em nó là (NH4NO3): Chứa 33 – 35% N tồn tại ở 2 dạng NH4+ và NO3-; dạng tinh thể, màu vàng xám, dễ chảy nước.

ammonium-nitrateCũng chia sẻ với các bác là Amon nitrat có hai ưu điểm chính đó là không làm chua đất. Loại phân này có hiệu quả tốt đối với các cây ưa nitrat như bông, đay, mía, ngô khoai, cà phê, cao su, cây ăn quả lâu năm. Thứ 2 là đối với đất kho hạn thiếu nước hiệu quả cao hơn phân amon, ban đầu gốc nitrat phát huy hiệu lực sau đó gốc amon phát huy hiệu lực tiếp theo.

Bên cạnh đó thì nó cũng có một số nhược điểm như: Dễ hút ẩm chảy nước nên khó bảo quản, amon nitrat không phù hợp để trồng lúa nước. Vì dễ bị rửa trôi nên bón phân amon nitrat không nên dùng bón lót nhiều và cần bón nhiều lần. Dễ rửa trôi mà mất đi nên không thích hợp cho đất nhẹ và vùng mưa nhiều do hiện tượng phản nitrat hóa.

Amoni clorua công thức hóa học của em nó là (NH4Cl): Chứa 24 – 25% N, dạng tinh thể mịn, màu trắng hoặc ngà, ít hút ẩm, tơi rời dễ bón.

amoni-cloruaNên bón NH4Cl kết hợp với phân lân. Không nên bón ở vùng khô hạn, đất chua phèn và mặn gây tồn đọng nhiều Clo làm cây bị ngộ độc, không bón cho thuốc lá, chè, khoai tây, hành tỏi, bắp cải, vừng…

Mức độ gây chua của HCl cũng tương tự như amon sunfat và cũng như amon sunfat độ gây chua do A.Cl cũng không đáng lưu ý. Ion Cl- là ion rất dễ di động. Ở vùng nhiệt đới mưa nhiều, nhất là ruộng trồng lúa sự tồn đọng ion Cl- trong đất không phải là vấn đề đáng quan tâm. Thí nghiệm bón NH4Cl ở nông trường Ninh Hải sau sáu vụ liền không phát hiện thấy Cl- tích lũy đáng kể trong đất. Vai trò của Cl- đối với cây trồng chưa được nghiên cứu nhiều. Hàm lượng Cl- trong thân lá một số cây còn cao hơn đạm và lân. Ví dụ trong rơm rạ lúa, hàm lượng Cl- là 1.06% còn đạm là 0.06%, P là 0.09% (S.Yoshida). Ở các nước ôn đới hiệu quả của Cl- thể hiện một số cây mì mạch, củ cải đường.

Canxi nitrat công thức hóa học của em nó là [Ca(NO3)2]: Loại phổ biển nhất là loại ngậm 4 phân tử nước và có hàm lượng nito 15-15.5% và gần 25% CaO.

canxi_nitratTrên thị trường thường có loại Đạm canxi Bo: Chứa 15,5% N và 26% Ca và 0,3% Bo.Phân có màu trắng hoặc màu vàng nó cung cấp cho cây trồng N và Ca và có thể bổ sung thêm Bo để dưỡng trái. Thích hợp với các loại cây trồng cạn, cây ăn quả, thích hợp bón trên đất cát, đất chua, đất phèn, đất mặn.

Canxi nitrat có nhiều loại, do cách sản xuất và tùy theo lượng nước chứa trong tinh thể. Cũng vì lý do đó mà hàm lượng đạm trong phân thay đổi nhiều.  Ngoài ra còn có loại canxi nitrat hỗn hợp với amon nitrat, loại canxi nitrat có chứa lân. Đó cũng là một cách để phân bớt hút ẩm.

Ngoài ra còn một số loại phân đạm khác như Natri nitrat (NaNO3), Kali nitrat(KNO3), Canxi cyanamite (CaCN2).

Ứng dụng của Phân đạm chủ yếu dùng bón thúc (xem chi tiết tại đây).

Tổng hợp bởi ChungFarm

Lưu

Lưu

Lưu

Lưu

Check Also

Axit humic có tác dụng duy trì độ phì của đất là vì sao?

Ngày nay đất càng ngày càng bị bạc màu do sói mòn hoặc thâm canh …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *